Wednesday, 30 December 2015

Vài nét sơ lược về nền văn hóa Ả Rập và đạo Hồi

Vài nét sơ lược về nền văn hóa Ả Rập và đạo Hồi

A. Văn hóa

Ả Rập là một trung tâm văn hóa lớn của thế giới thời Trung đại. Người Ả Rập đã tiếp thu những thành tựu văn hóa của Hy Lạp, La Mã, Ân Độ, Ba Tư, Iran, Ai Cập... và các nền văn hóa khác có trước mình tạo nên một nền văn hóa mang bản sắc dân tộc Ả Rập và Hồi giáo. Ngôn ngữ Ả Rập và đạo Hồi bành trướng suốt từ Bắc Phi, Tây Ban Nha đến Tân Cương (Trung Quốc), làm cho văn hóa Ả Rập có tính chất thống nhất, nhưng kết hợp nhiều yếu tố dân tộc của các khu vực khác. Các thành thị lớn của Ả Rập như Baghdad, Cordoba (tiếng Pháp: Cordoue), Cairo, v.v..., là những trung tâm văn hóa lớn thời ấy. Tại các trung tâm này đã xuất hiện nhiều trường Đại học, đài thiên văn, các cơ sở nghiên cứu khoa học, y học, giải phẫu học. Nhất là đã có những thư viện lưu trữ hàng vạn cuốn sách.

Về triết học, triết học chính thống Ả Rập bị giáo lý đạo Hồi chi phối sâu sắc. Đóng góp của người Ả Rập trên lĩnh vực này là sách dịch và truyền bá nhiều tác phẩm của các nhà triết học cổ Hy Lạp - La Mã. Triết học của nhà duy tâm Hy Lạp Aristote (Arixtôt) được dịch ra nhiều thứ tiếng như Syrie, Ba Tư và Ả Rập (người Tây Âu sau này biết được nhà triết học Hy Lạp đầu tiên là nhờ những bản dịch này). Hai nhà triết học của Ả Rập là Avicenne (Avixen, 980-1037) và Averroès (Avvơrôet, 1126-1198) ở Cordoba, chính là tác giả bản giải thích tác phẩm của Aristote.

Về văn học, trước khi đạo Hồi ra đời, Ả Rập đã có rất nhiều thơ ca truyền miệng. Trên cơ sở ấy, đến giữa thế kỷ IX, Abu Tammam đã sưu tầm và hiệu đính thành hai tập thơ lấy tiêu đề là Anh dũng ca (bao gồm thơ của hơn 500 nhà thơ Ả Rập thời cổ đại). Đến thế kỷ X, Abul Faraj (Abulơ Pharatdơ) ở Ispahan (Ixpahan) lại soạn một tuyển tập thơ lớn là Thi ca tập, trong đó đưa vào rất nhiều bài thơ thời trước.

Thơ ca Ả Rập phát triển nhất vào thế kỷ VIII đến thế kỷ XI. Trong thời gian này ra đời nhiều bài thơ có giá trị phản ánh hiện thực sâu sắc: Abu Nuwas (Abu Nuvat), người được coi là nhà thơ xuất sắc nhất của thời kỳ ấy. Ông đã viết những bài thơ tình yêu nổi tiếng và cũng lắng đọng tư tưởng tự do chống lại đạo Hồi. Abu Lơ Atahia (thợ làm đồ gốm) sáng tác nhiều bài thơ vạch trần sự hoang dâm, phóng đãng trong cung đình. Abu Phirat (quân nhân) nổi tiếng nhờ bài thơ viết gửi mẹ sau khi bị bắt làm tù binh ở Bizantin. Abu Lơ Ala Maari (nhà thơ mù nổi tiếng ở Syrie, sống vào đầu thế kỷ XI) với những bài thơ phê phán quan hệ xã hội và đạo đức phong kiến, đồng thời phủ nhận những tín điều mà được coi là lời dạy của Chúa, chỉ trích những người lợi dụng lòng mê tín của quần chúng để cầu lợi cho mình. Ông được mệnh danh là “nhà triết học trong nhà thơ và nhà thơ trong nhà triết học”.

Văn xuôi của Ả Rập nổi tiếng nhất với tập truyện dân gian Nghìn lẻ một đêm[1]. Những truyện trong tác phẩm này bắt đầu từ tập Một nghìn câu chuyện của Ba Tư ra đời từ thế kỷ VI, dần dần được bổ sung bằng các truyện thần thoại của Ân Độ, Ai Cập, Hy Lạp... rồi cải biên và xâu chuỗi một cách tài tình các truyện không liên quan với nhau đó thành một câu chuyện dài xảy ra trong cung vua. Vị quốc vương được nói đến trong truyện Nghìn lẻ một đêm là vị Caliph Haroun (Harun; 786-809) cai trị Ả Rập trong thời kỳ Kinh đô của đế quốc đóng ở thành Baghdad. Truyện Nghìn lẻ một đêm phản ánh rõ rệt xã hội Ả Rập thời đó cùng những phong tục, tập quán, cuộc sống của nhân dân các dân tộc trong đế quốc Ả Rập.

Ngoài những thành tựu trên lĩnh vực thơ và văn xuôi, các thương nhân, lữ hành, học giả Ả Rập đi lại nhiều nơi, do vậy có để lại nhiều tác phẩm, tài liệu địa lý và lịch sử có giá trị. Maxuđi (chết năm 956) thu nhập trong cuốn Những đồng cỏ vàng với rất nhiều tài liệu quý về nền văn minh phương Đông. Tabari (sống đầu thế kỷ X) biên thảo một cuốn Lịch sử thế giới từ khi thành lập đến thời đó. Đặc biệt, nhà lịch sử Canđun, người Bắc Phi, sống ở thế kỷ XV, đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều tư liệu phong phú.

Về khoa học tự nhiên, trên cơ sở tiếp thu những di sản văn hoá cổ đại, qua việc phiên dịch và chú giải nhiều tác phẩm khoa học của Hy Lạp, người Ả Rập đã cung cấp cho chúng ta chữ số Ả Rập ngày nay qua việc họ tiếp thu và phát triển chữ số của người Ấn Độ. Họ đã hoàn bị các phép tính đại số, giải quyết được các bài toán phương trình bậc 4. Họ phát triển các kiến thức về hình học, lượng giác. Họ đặt ra khái niệm sin, côsin, tang, côtang... Tác phẩm đại số học của Mohammed Ibn Musa sống vào cuối thế kỷ VIII đến nửa đầu thế kỷ IX là một trong những quyển sách đầu tiên về môn học này. Cho đến tận thế kỷ X, cuốn sách đó vẫn được coi là cuốn đại số học chủ yếu dùng trong các trường học ở châu Âu. Người Ả Rập có nhiều hiểu biết về lĩnh vực thiên văn, hóa học, họ đã chế biến được rượu, cồn, axit... và kỹ thuật tổng hợp về luyện đan, làm tiền đề cho môn hóa học vô cơ sau này.

Về kỹ thuật, người Ả Rập đã xây dựng được nhiều công trình trị thủy tốt. Họ đã làm ra nhiều mặt hàng xa xỉ phẩm cho giới quý tộc hay buôn bán ra nước ngoài như da màu Cordoba, vũ khí Tôlet và Đimaxô, vải xoa Môtxun, thảm dệt Ả Rập...

Nghệ thuật kiến trúc là một thành công lớn của người Ả Rập. Người Ả Rập - Hồi giáo không được quyền tạc tượng, vẽ hình, cho nên kiểu trang trí của họ dùng hoàn toàn những đường dệt giao nhau có tính chất hình học, nhưng phối hợp thành những tác phẩm mỹ thuật tuyệt tác. Hiện nay còn những thánh đường Hồi giáo lớn ở Cairo (Ai Cập), Cairuan (Tunisie), Marakêch (Maroc), Têlêđô, nhất là cung điện Alambra (Granađa) Tây Ban Nha và thánh đường Hồi giáo (nay đã thành nhà thờ Cơ đốc) ở Cordoba (Tây Ban Nha) (xây từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XI mới xong). Công trình này rất vĩ đại, đẹp và trang nghiêm.

Sự đóng góp của người Ả Rập đối với nền văn minh thế giới còn phải kể đến vai trò trung gian của họ. Những tác phẩm triết học, văn học của Hy Lạp, cách làm giấy, thuốc súng, la bàn là những phát minh lớn của người Trung Quốc, kỹ nghệ dệt vải, lụa, thảm, làm vũ khí, thuộc da, làm đường của Syrie, nhiều thứ cây nông nghiệp (chà là, mía) cây công nghiệp (bông, dâu) của Ba Tư, Ai Cập..., qua Ả Rập được truyền sang nhiều nước trên thế giới.

Trong khi Tây Âu đang chìm đắm trong cảnh hỗn loạn và tối tăm của thời kỳ phong kiến Trung cổ, giáo hội Thiên Chúa giáo đang hoành hành, hủy hoại nhiều tác phẩm cổ điển, chà đạp lên nhiều chân lý khoa học, thì Ả Rập vẫn duy trì và phát triển được nền văn hóa cổ đại, thu hút nền văn hóa phương Đông vẫn đang phát triển rực rỡ và làm cái cầu nối cho văn hóa phương Tây sau này phát triển trở lại.

B. Đạo hồi

Người sáng lập đạo Hồi là Mohammed (570-632). Ông sinh vào năm 570 (có tài liệu nói ông sinh năm 571). Tuy xuất thân từ một bộ lạc có thế lực nhất ở Mecca, nhưng Mohammed phải sống trong cảnh cực khổ. Mohammed mồ côi mẹ khi chưa đầy 6 tuổi, mồ côi bố khi còn trong bụng mẹ, ông sống với người chú tên là Abu Talib (Abu Talip), chăn dê và cừu cho ông chú đó. Khi Mohammed lớn lên, ông đi làm cho một bà thương gia giàu có góa chồng tên là Khadija (Hađija). Bà rất thích người làm công trẻ tuổi, và chẳng bao lâu sau, bất chấp sự khác biệt rất lớn về tuổi tác (Mohammed lúc đó 24 tuổi mà Khadija đã 40), Mohammed đã cưới Khadija làm vợ, đó là người vợ đầu tiên của nhà tiên tri. Sau cuộc hôn nhân này, Mohammed đã có một sự độc lập về kinh tế và tổ ấm gia đình. Theo truyền thuyết kể lại, Mohammed rất gắn bó với người vợ đầu tiên của mình. Về phần mình, Khadija cũng rất trung thành với chồng, và đã sinh được mấy người con, trong đó có cô con gái quý là Fatima. Sau khi lấy vợ, Mohammed còn buôn bán một thời gian. Nhưng sau đó, ông bỏ nghề này, và vào khoảng năm 610, ông bắt đầu hoạt động như một nhà truyền giáo. Mohammed (có nghĩa là “đáng khen”) tự xưng là sứ giả của Allah (tức là Thượng đế - thần thực sự và độc nhất), tuyên truyền vận động mọi người theo Ixlam giáo (nghĩa là “thuận theo”, “phục tùng”, về sau do người Hồi ở Trung Quốc theo tôn giáo ấy, nên quen gọi là đạo Hồi).

Về mặt tín ngưỡng, đạo Hồi cho rằng chỉ có Allah là Chúa duy nhất của Vũ trụ, ngoài ra không có chúa nào khác. Chính Allah đã sáng tạo ra tất cả, trời đất vạn vật đều là của Allah. Còn Mohammed là sứ giả của Allah và là nhà tiên tri của tín đồ.

Trong đạo Hồi, lòng tin vào thánh Allah được coi là hạt nhân, là cốt lõi, quanh đó tập hợp mọi quan niệm tôn giáo khác. Trong Kinh Coran thường xuyên nhắc lại rằng thánh Allah là duy nhất, không do ai tạo ra, tồn tại vĩnh viễn. Những tín đồ Hồi giáo thành tâm đã thuộc lòng nhiều hình dung từ xứng đáng với cái tên của thánh Allah, đại loại như. “duy nhất”, “đầu tiên”, “vĩnh cửu”, “thấy mọi điều”, “biết mọi điều”, “đạt được mọi điều”, “đấng tối cao của ngày phán xử”, “nhân từ”, “có sức mạnh”, “có uy quyền”... Theo các tín đồ Hồi giáo, sở dĩ có nhiều hình dung từ như vậy để miêu tả thánh Allah, vì Người đã chiến thắng và chinh phục được các thần khác, cần phải tập trung trong mình toàn bộ sức mạnh và khả năng của họ. Những nguyên tắc còn lại của đạo Hồi đều xây dựng trên cơ sở uy tín của thánh Allah. Các nguyên tắc đó là: lòng tin vào thần, vào quỷ, vào tính thiêng liêng của Kinh Coran, vào sứ mạng sứ giả của Mohammed. Giới tu hành đã dạy: “Nghi ngờ về sứ mạng sứ giả của Mohammed - tiên tri của các tín đồ Hồi giáo - sẽ bị coi như tội nghi ngờ vào sự tồn tại của thánh Allah vậy”.

Trong quá trình hình thành, đạo Hồi đã tiếp thu nhiều yếu tố của các tôn giáo khác. Thánh Allah giữ lại nhiều nét của các thần thánh mà các bộ tộc Ả Rập phía Bắc đã thờ, đó là thánh Taalia. Theo tưởng tượng của những người Ả Rập sống ở thời kỳ trước khi có đạo Hồi, thì thánh Taalia có nhiều nét chung với các thánh của tôn giáo khác, chẳng hạn Allah rất giống Jéhovah của đạo Do Thái, giống đức Cha của đạo Thiên Chúa. Mohammed cho rằng Moise (Môidơ), người sáng lập ra đạo Do Thái và đem lại cho thế gian Kinh Cựu ước, và Jésus (Giêxu), người sáng lập ra đạo Cơ đốc và đem lại Kinh Tân ước đều là những bậc tiên tri tiền bối nhưng Mohammed là vị tiên tri cuối cùng và vĩ đại nhất. Đạo Hồi cũng tiếp thu cả những truyền thuyết về sáng tạo thế giới, những quan niệm về thiên đường, địa ngục, ngày phán xét cuối cùng, các quan niệm về thần linh, ma quỷ... Đạo Hồi cũng tin tưởng linh hồn là bất tử, và sau khi chết, người ta sẽ sống lại ở kiếp khác. Nếu ai thành tâm sùng kính Allah, ăn ở hiền lành thì kiếp sau sẽ được lên thiên đường, trái lại, nếu đức tin không đúng đắn, ăn ở độc ác thì kiếp sau sẽ bị đày xuống địa ngục.

Đạo Hồi không giống nhiều tôn giáo khác ở chỗ tuyệt đối không thờ tượng thần, vì họ quan niệm rằng Allah tỏa khắp mọi nơi, không có một hình tượng nào có thể thể hiện được Allah. Bởi vậy, trong các nhà thờ Hồi giáo, tuyệt nhiên không có tượng và tranh ảnh. Tường và mái vòm của nhà thờ đôi khi chỉ được trang trí bằng những dòng chữ Ả Rập được trích từ Kinh Coran. Trong nhà thờ có một chỗ lõm khoét sâu vào tường đặt bộ Kinh Coran và một số sách thánh khác. Riêng ở nhà thờ chính ở Mecca, nơi được coi là đất thánh của đạo Hồi, có thờ một phiến đá đen từ xưa để lại mà thôi.

Về mặt xã hội, trong thời kỳ đầu, đạo Hồi chống những tập quán của xã hội nguyên thủy như quan niệm hẹp hòi về thị tộc, bộ lạc, tập quán nợ máu phải trả bằng máu, báo thù có tính chất thị tộc, thờ thần tượng, đa thần giáo. Đạo Hồi thừa nhận chế độ nô lệ, chế độ một chồng nhiều vợ, hạ thấp vai trò của phụ nữ, chủ trương bảo vệ việc buôn bán và chế độ tư hữu tài sản. Tuy vậy, đạo Hồi kêu gọi mọi người đoàn kết, không chém giết lẫn nhau, các bộ tộc Ả Rập coi nhau như anh em, hô hào phải hết sức giúp đỡ người nghèo, nhất là bà góa và trẻ mồ côi.

Đạo Hồi còn chủ trương phải phát động chiến tranh để bảo vệ và phát triển tôn giáo, và tuyên truyền rằng các tín đồ muốn linh hồn được cứu vớt thì phải tích cực tham gia chiến đấu, Những kẻ tử trận được coi là những người chết vì đạo, do đó linh hồn của họ sẽ được lên thiên đường. Vợ con của những người tử nạn trong các cuộc chiến tranh sẽ được cứu giúp. Để cổ vũ người Ả Rập tham gia tích cực hơn nữa vào các cuộc chiến tranh xâm lược, đạo Hồi còn hứa hẹn với họ một phần thưởng thiết thực hơn so với sự cứu vớt về linh hồn, đó là các chiến lợi phẩm mà nguyên tắc phân chia được quy định rõ ràng: 1/5 thuộc về tiên tri, thị tộc của tiên tri và dùng để chia cho bà góa và trẻ mồ côi, còn 4/5 thì chia cho quân đội, trong đó kỵ binh được 3/5, bộ binh 1/5.

Về nghĩa vụ của tín đồ, đạo Hồi quy định các tín đồ phải thực hiện đầy đủ năm bổn phận “cốt đạo”: thấm nhuần tín ngưỡng, cầu nguyện, thực hiện ăn chay, phân phát của bố thí, hành hương. Cụ thể là:

1. Phải có đức tin hết sức kiên định là thừa nhận chỉ có thánh Allah, không có thánh nào khác, còn Mohammed là “sứ giả” của Allah và là vị tiên tri cuối cùng.

2. Hằng ngày phải cầu nguyện năm lần vào các thời điểm: sáng, trưa, chiều, tối và đêm. Ngoài ra, cứ đến thứ sáu hằng tuần phải đến nhà thờ làm lễ một lần. Tín đồ đạo Hồi còn phải có trách nhiệm cầu nguyện cho những người đã chết, trong các trường hợp khác như lấy vợ, gả chồng, sinh con, xây nhà, mở đầu vụ thu hoạch, gặt hái...

3. Mỗi năm, đến tháng 9 lịch đạo Hồi phải trai giới một tháng. Trong thời gian này, từ khi Mặt trời mọc đến khi Mặt trời lặn, tín đồ tuyệt đối không được ăn, uống, hút thuốc, vui chơi. Toàn bộ thời gian ban ngày của tín đồ là dành cho việc cầu nguyện, điểm lại các việc con người đã làm và suy nghĩ về cách chuộc tội với thánh Allah.

4. Phải nộp thuế cho đạo để giúp đỡ người nghèo.

5. Trong suốt đời người, nếu có khả năng phải đi hành hương đến Caaba ở Mecca một lần.

Kinh thánh của đạo Hồi là Kinh Coran (nghĩa là “đọc”) trong đó ghi lại những chủ trương về tôn giáo của Mohammed, mà đó là những lời nói thể hiện ý Chúa, một bản tổng hợp mọi tri thức khoa học và mọi nguyên tắc pháp luật và đạo đức. Với tín đồ Hồi giáo, Kinh Coran là cuốn sách thánh, vì thế không thể do một người nào sáng tạo ra, mà đã tồn tại từ trước. Bản gốc của cuốn sách do đấng Allah giữ dưới ngai vàng của Ngài. Ngài truyền từng phần một dưới dạng những lời khải thị cho sứ giả của mình là Mohammed, thông qua thiên thần Gabrien. Những lời khải thị của thánh Allah sau được Mohammed truyền lại, các Caliph cho sưu tầm, ghi chép lại thành cuốn Kinh Coran. Trong thời Mohammed còn sống, không thấy một bộ sưu tập Kinh Coran nào. Những bản thảo lâu đời nhất có niên đại đều thuộc vào thế kỷ VII, đầu thế kỷ VIII, tức là phải viết sau vài chục năm khi Mohammed chết (632). Sự xuất hiện của Kinh Coran gắn liền với quá trình hình thành đế quốc Ả Rập.

Sau khi Mohammed chết, Abu Bêkrơ kế vị, Caliph đầu tiên của đế quốc Ả Rập, ra lệnh cho Zait Ibn Thabit - người thư ký giỏi nhất của Mohammed - tìm kiếm những đoạn chép tay, những gì còn giữ lại trong trí nhớ của các tín đồ thân cận Mohammed, rồi tập hợp thành một cuốn kinh. Đến thời Caliph Osman, việc biên soạn Kinh Coran lại được tiến hành do công sức của nhiều người.

Kinh Coran chia làm 1/4 chương. Mỗi chương (sur) bao gồm những bài thơ (ayat). Chữ “ayat” có nghĩa là “điều lành”, “điều kỳ diệu”. Các chương đều khác nhau về khuôn khổ và được sắp xếp không theo thứ tự thời gian và nội dung. Nghiên cứu Kinh Coran, các nhà bác học nói chung không cho nó là một mớ những chuyện nhảm nhí, bịa đặt. Nó chứa đựng những tư liệu dân tộc học dù là nghèo nàn về cuộc sống, văn hóa và về phong tục tập quán của người Ả Rập. Những tập quán cổ xưa, những giai thoại về cuộc đấu tranh chống đa thần giáo, chống những tàn dư của chế độ cộng đồng gia trưởng lỗi thời... được miêu tả trong quyển sách này là rất bổ ích. Từ văn bản của Kinh Coran, một di sản văn học cổ, các nhà ngôn ngữ học đã khai thác được nhiều tư liệu bổ ích cho việc nghiên cứu thành phần từ vựng và ngữ pháp của tiếng Ả Rập. Nhìn chung, Kinh Coran chỉ chứa đựng rất ít tư liệu lịch sử. Trong Kinh Coran có những chỉ dẫn về việc quảng cáo thương nghiệp, quan hệ gia đình, cưới xin, dẫn ra một số những quy định về đạo đức đối với người theo đạo Hồi. Nhưng chủ đề chính của nó là khẳng định các nguyên tắc tôn giáo, những quy định về nghĩa vụ của các tín đồ đối với đức thánh Allah.

Trong thời kỳ đầu, ở Ả Rập chưa có sự phân biệt giữa tu sĩ và tín đồ, giữa giáo hội và tổ chức Nhà nước, giữa quy chế tôn giáo và pháp luật. Đạo Hồi trong thời gian mới ra đời có vai trò rất quan trong trong việc xác lập quyền thống trị của giai cấp quý tộc và việc thành lập Nhà nước Ả Rập thống nhất. Như vậy, khi mới ra đời, đạo Hồi là tôn giáo của giai đoạn quá độ từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp ở Ả Rập. Về sau, khi Ả Rập chuyển sang chế độ phong kiến, đạo Hồi cũng trở thành tôn giáo bảo vệ chế độ phong kiến, làm công cụ mê hoặc quần chúng nhân dân, khiến họ phải phục tùng, nhẫn nhục và an phận. Đến giai đoạn này, tuy các Caliph vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là thủ lĩnh tôn giáo, nhưng tầng lớp tu sĩ đã tách ra thành một tầng lớp có nhiều đặc quyền, tuy vẫn lấy giáo lý của Kinh Coran làm nguyên tắc, nhưng pháp luật của Nhà nước đã tách ra thành một lĩnh vực riêng. Đồng thời, thái độ của đạo Hồi đối với các tôn giáo khác đến giai đoạn này cũng có sự thay đổi. Nếu như trước kia, đối với đạo Do Thái và Cơ đốc, đạo Hồi còn có thái độ khoan dung thì nay tuyệt nhiên không nhân nhượng nữa. Sự bành trướng của đạo Hồi đi liền với quá trình hình thành của đế quốc Ả Rập.

C. Sự truyền bá của đạo Hồi

Ngay sau khi xuất hiện, đạo Hồi đã cùng với các nhà chinh phục Ả Rập vượt qua biên giới nhiều nước bắt đầu truyền bá vào các dân tộc khác.

Từ một tôn giáo quốc gia trở thành tôn giáo của nhiều nước trên thế giới, sự truyền bá của đạo Hồi đã trải qua ba giai đoạn sau?

a) Giai đoạn từ đầu thế kỷ VII đến giữa thế kỷ VIII.

Giai đoạn này, gắn liền với quá trình Ả Rập xâm lược các nước khác, trở thành một đế quốc có lãnh thổ rộng lớn: phía Đông đến Tây Bắc Ấn Độ, Trung Á, Tây đến Bắc Phi, Tây Ban Nha. Ở những vùng bị chinh phục, cư dân dần dần đi theo đạo Hồi, và hình thành những tập tục mang những nét đặc trưng riêng của đời sống sinh hoạt xã hội Hồi giáo như: cùng ăn chay tháng Ramađan; cùng kiêng kỵ (không uống rượu, không ăn thịt chó, thịt lợn), y phục riêng (chiếc khăn trùm đầu, chiếc áo khoác rất dài và rất rộng, phụ nữ dùng mạng che mặt), tiếng Ả Rập được truyền bá và trở thành ngôn ngữ thiêng liêng... Người Ả Rập còn tạo ra một không gian Hồi giáo với những thánh thất có vòm tròn nhọn độc đáo. Trên đường chinh phục các nước, đã mọc lên hàng loạt các thành phố, các khu doanh trại làm chỗ dừng chân cho quân đội. Tại các thành phố đều có những thánh thất làm khu vực trung tâm của cộng đồng Hồi giáo. Thánh thất Damas được xây dựng năm 705 đã trở thành khuôn mẫu chung cho thánh thất của đạo Hồi.

Dưới triều đại Omayyad (Ômayat) (661-750), các vị Caliph đã có nhiều công sức để tập hợp các di sản văn hóa Ả Rập một cách có hệ thống, trong đó quan trọng nhất là chú giải Kinh Coran.

b) Giai đoạn từ giữa thế kỷ VIII đến năm 1050.

Giai đoạn này bắt đầu bằng sự kiện Abu Al-Abbass lật đổ triều Omayyad (750), lập triều Abbassid. Trung tâm hành chính của đế quốc Ả Rập đóng ở Baghdad, trên sông tigre.

Đây là thời kỳ đạo Hồi chuyển sang một giai đoạn mới: vai trò chính nằm trong tay người Ba Tư. Người Ba Tư còn muốn phủ nhận vị trí độc quyền của người Ả Rập trong giai đoạn đầu về việc bảo vệ văn hóa, ngôn ngữ hồi giáo.

Trung tâm Hồi giáo nhích thêm một bước nữa sang phương Đông. Đặt Thủ đô ở Baghdad, tức là đặt các trung tâm Hồi giáo vào nơi truyền thống văn hóa Ba Tư cổ đại, nên từ đó Hồi giáo mang sắc diện mới. Baghdad trở thành khuôn mẫu cho những thành phố, cung điện sẽ xây dựng sau này. Một loạt đô thị phương Đông mọc lên trên biển cả, nông thôn rộng lớn, Vùng Địa Trung Hải mọc lên các thành phố nổi tiếng như Cairo, Tunis, Fès (Fez), Cordoue (Cordoba) làm thay đổi hẳn bộ mặt xứ sở. tiếp theo là các thành phố dọc theo hai sông lớn ở Lưỡng Hà, những thành phố ốc đảo trên đường đi của các đoàn buôn ở Trung Á những thành phố công xưởng ở Sogdiane (Xôđian), những thành phố lớn ở bờ Địa Trung Hải hay vịnh Ba Tư, hoặc các thành phố trung chuyển ở cửa ngõ các con đường phía Bắc sa mạc sahara.

Trung tâm Hồi giáo nằm ở ngã tư đường buôn bán thế giới, nơi gặp gỡ của nhiều luồng văn minh, khiến cho nó vừa mang tính chất cổ điển, vừa mang tính chết hỗn tạp, vừa đóng vai trò trung tâm, vừa là môi giới giữa các nền văn minh thế giới.

Ngôn ngữ Ả Rập đóng vai trò quan trọng, trở thành công cụ giao tiếp phổ biến, rất thông dụng, làm cho việc truyền bá đạo Hồi thêm thuận lợi.

c) Giai đoạn từ giữa thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIII.

Đầu thế kỷ XI, người Turc (Tuyêc)[2] vào được Ba Tư. Người Turc tiếp nhận đạo Hồi. Năm 1055, người Turc được vị Caliph ở Baghdad mời đến để đánh đuổi thế lực của dòng họ Bui vẫn kiềm chế mình. Nhờ đó, vị Caliph Ả Rập thoát khỏi bàn tay thao túng của dòng họ Bui, nhưng cũng từ đó họ đánh mất luôn quyền thống trị thế giới Hồi giáo vào tay các Sultan người Turc.

Theo bước chân chinh phục của Turc, thế giới Hồi giáo bành trướng. Tây đến Áo, Đông sang tận Trung Quốc, Ấn Độ rồi tràn vào Inđônêxia, và Tây Nam xuống tận châu Phi.

Từ 1096 đến 1970, người Turc phải đương đầu với những cuộc tấn công của quân Thập tự Cơ đốc giáo để giành khu vực mộ thánh Jérusalem. Quân Thập tự thất bại, thế giới Hồi giáo được củng cố. Vào thế kỷ XIII, thế giới Hồi giáo lại bị những đoàn kỵ binh Mông Cổ tấn công. Quân Mông Cổ đã bốn lần tấn công ồ ạt vào thế giới Hồi giáo. Năm 1258, quân Mông Cổ chiếm Baghdad. Năm 1260, quân Mông Cổ chiếm Damas, Từ 1380 đến 1400, Timur Lang từ Trung Á kéo quân tràn xuống Ấn Độ, sang tận Syrie. Thế giới Hồi giáo liên tiếp bị đe dọa, tưởng chừng bị tiêu diệt, nhưng ngược lại, ảnh hưởng của đạo Hồi lại càng được mở rộng. Trung Á trở thành một trong những trung tâm quan trong của đạo Hồi suốt mấy thế kỷ. Sự xuất hiện của người Turc -Ottoman ở Tiểu Á trong một thời gian dài là chỗ dựa cho thế giới Hồi giáo. Thời Ottoman là đỉnh cao của bản thân thế giới Hồi giáo Turc, và là thời kỳ phát triển quan trong của lịch sử đạo Hồi.

Quá trình truyền bá đạo Hồi đã mất không ít thời gian. Trong nhiều vùng, sự phổ biến việc cưỡng bức cư dân theo đạo Hồi kéo dài hàng trăm năm. Nhưng những hành động cưỡng bức không hoàn toàn bảo đảm cho sự truyền bá tôn giáo mới. Những biện pháp khuyến khích vật chất, kinh tế xã hội, sức ép tinh thần và tâm lý, những sự tuyên truyền dai dẳng, sự suy tàn của các tín ngưỡng địa phương, sự trùng hợp quyền lợi của các giai cấp thống trị với quyền lợi của kẻ xâm lược... tất cả các nhân tố đó đều nằm trong sự liên hệ chồng chéo giúp cho sự truyền bá đạo Hồi được phát triển một cách rộng rãi[3].

[1] Tác phẩm này được hình thành từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII. - B.T

[2] Người Turc, sử cũ Trung Hoa gọi là Đột Quyết, tên chỉ những bộ lạc cùng một ngữ hệ, lúc đầu họ sống du mục ở vùng núi Antai. Đột Quyết được phiên âm từ chữ “Tür Kiit”, số nhiều của chữ “Türk”. - B.T

[3] Trích trong cuốn Lịch sử thế giới Trung đại. NXB Giáo dục, in 1998 và NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp in năm 1984

(bachkhoatrithuc.vn)